Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Xử lý nước thải chăn nuôi bằng kỹ thuật hóa lý phối hợp MBR.

tiếp nối chuỗi bài viết về khoa học xử lý nước thải chăn nuôi heo, SACOTEC xin sản xuất công nghệ hóa lý + MBR, đây là khoa học chỉ để tham khảo do không với tính áp dụng cao trong nước thải chăn nuôi heo, vì mức giá đầu tư và bảo trì cao.

Xem thêm bài viết trong serie:

đặc thù quan trọng nhất của nước thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi, đặc thù là chăn nuôi lợn là Hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng được miêu tả qua những tham số như: COD, BOD5, TN, TP, SS…những tham số này là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chính. Đây là các thành phần dễ phân hủy, gây mùi hôi thối, nảy sinh khí độc, khiến cho sụt giảm lượng ôxy hòa tan trong nước và đặc trưng ví như ko được xử lý lúc thải ra nguồn thu nhận sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây phì dưỡng hệ sinh thái, làm cho tác động tới cây trồng và là nguồn dinh dưỡng quan yếu để những vi khuẩn gây hại vững mạnh. Tuy nhiên trong nước thải của nông trại chăn nuôi heo mang cất hàm lượng to các vi khuẩn gây bệnh dịch, đây là nguyên tố tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người cũng như động vật trong khu vực.

Trong các khu trang trại chăn nuôi lợn việc quét dọn phân chuồng bằng nước được tiêu dùng phổ biến tạo ra 1 khối lượng nước thải khá to. Trong nước thải hợp chất hữu cơ chiếm 70-80% gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidrat carbon và những dẫn xuất của chúng có trong phân và thức ăn thừa. Tất cả những chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất vô sinh chiếm 20-30% gồm cát, đất, muối, urê, amonium, muối, chlorua, SO42-… những hợp chất hóa học trong phân và nước thải tiện dụng bị phân hủy, đặc biệt ô nhiễm được diễn tả cụ thể trong bảng sau:

Stt tiêu chí Tìm hiểu tổ chức

Kết quả

 

QCVN 62:2016/BTNMT (Cột B)
một. pH 6,5 5,5 – 9
hai. COD mg/l 2100 100
3. BOD5(200C) mg/l 1000 50
4. Chất rắn lơ lửng mg/l 200 100
5. Tổng N mg/l 600 30
6. Tổng P mg/l 40 6
7. Coliform * MPN/100ml 110.000 5000

Thuyết minh thứ tự xử lý nước thải chăn nuôi heo

Nước thải trong khoảng trại chăn nuôi heo đươc dẫn vào hố thu lượm. Sau chậm tiến độ nước thải tự chảy vào hầm biogas, số đông trong nước thải chăn nuôi đựng những hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh vật học .Vì vậy, nước thải sau lúc qua biogas sở hữu loại thể bỏ được khoảng 60% COD, 80% cặn lửng lơ.

Nước thải trại heo sau biogas được dẫn vào bể lắng sơ cấp. Nước thải sau khi qua bể lắng, các hợp chất hữu cơ, cặn mang kích thước lớn sẽ được giữ lại tại bể lắng, mục đích của việc ngoại hình thêm bể lắng nhằm đảm bảo được sự hoạt động ổn định của các vật dụng phía sau.

Nước được dẫn tới bể điều hòa kết hợp sở hữu máy sục khí nhằm khiến cho giảm được 1 phần khí metan NH3 được tạo ra trong công đoạn kị khí , đảo lộn hoàn toàn nước thải tránh tình trạng bị lắng cặn , ổn định được lưu lượng, chất lượng nước . Do nồng độ COD, BOD trong nước thải chăn nuôi tại từng thời khắc ko ổn định, nên nước thải cần đưa vào bể điều hòa

Nước thải sau bể điều hòa được đưa vào cụm bể keo tụ tạo bông. Tại bể keo tụ tạo bông , châm hóa chất polymer và PAC nâng cao hiệu quả xử lí BOD,COD . Cụm bể hóa lí gồm 3 ngăn keo tụ +tạo bông+lắng , hóa chất sẽ được châm vào ngăn thứ nhất keo tụ , ở ngăn này nước thải sẽ được khuấy trộn đều với hóa chất , thời kì khuấy trộn xảy ra ngắn nhất và tốc độ khuấy nhanh nhất trong 3 ngăn. Sau ngừng thi côngĐây sẽ được qua ngăn hai : tạo bông . Hóa chất tiếp diễn châm , giảm tốc độ khuấy và thời gian khuấy. Lúc này sẽ hình thành các bông cặn to nên giảm tốc độ khuấy vì dễ làm đổ vỡ bông cặn . Nước được chảy qua ngăn 3: Lắng , tại đây những bông cặn sẽ lắng phần nước trong được dẫn đến bể anoxic, còn phần bông cặn sẽ được dẫn đến bể chứa bùn.

Việc ngoại hình bể anoxic đặt trước MBR là vì trong quá trình xử lí ko cần phải bổ sung thêm chất hữu cơ giúp thời kỳ xử lý nito trong nước thải thấp hơn, ít phải bổ sung nguồn C bên ngoài. Nước thải từ bể lắng hóa lý sẽ tự chảy về bể anoxic

Bể thiếu khí Anoxic

thời kỳ phản ứng nitrat

NH3 NO3 NO2 NO N2O N2(GAS)

Qúa trình phản ứng phôtphorit

PO4-3 Microorganism (PO4-3) Salt => sludge

Nước thải sẽ được dẫn đến bể MBR. Có cơ chế màng vi lọc MBR dạng tấm phẳng, kích thước lỗ màng MBR siêu nhỏ 0.01-0.2 mm. Nước thải sau thời kỳ sinh vật học thấm qua màng. Bùn và vi sinh vật gây hại như ( Coliform, Ecoli…) sẽ được giữ lại, chỉ sở hữu nước thấm qua. Hệ thống sử dụng khoa học màng MBR tiêu dùng mật độ bùn vi sinh ( MLSS) cao hơn => giảm thể tích bể sinh vật học, tăng hiệu quả xử lí, giảm sốc chuyên chở .

Sau chậm triển khai nước thải sẽ được dẫn tới hồ sinh học lợi dụng công đoạn tự làm sạch của nguồn tiếp thụ nước thải. Lượng oxy cho quá trình sinh hóa chính yếu là do không khí xâm nhập qua mặt thoáng của hồ và do thời kỳ quang quẻ hợp của thực vật nước.

Hệ động thực vật của hồ sinh học thường mang các vi sinh vật: vi sinh vật, nguyên sinh động vật, tảo, rêu, bèo… các vi sinh vật trong hồ là những vi sinh vật kỵ khí, yếm khí, hiếu khí hay tuỳ một thể như interobacterium, streptococus, clostridium, achromobacter, cytophaga, micrococus, pseu-domonas, bacillus, lactobacillus…

Thực vật trong hồ sinh vật học tiêu dùng các dinh dưỡng ( N,P), kim khí nặng (Cu, Cd, Zn..) đê tăng trưởng sinh khối. Cùng lúc trong hồ sinh học, thì những vi khuẩn luôn tiến hóa, thích ứng cao trong từng dòng nước thải. Do đó ở các điều kiện khác nhau thì những hàng ngũ thủy vật, thủy sinh sẽ được hình thành khác nhau. Bên cạnh đó chỉ có một số các thuộc tính phù hợp cho việc xử lý môi trường nước ô nhiễm.

ngày nay tại hồ sinh vật học, người ta thường dùng bèo tây, rau muống để xử lý nước thải. Bên cạnh đó điều sai trái to nhất trong việc xử lý là đề lục bình (bèo tây), rau muống mọc che kín đầy đủ mặt hồ. Trong quá trình xử lý, thì việc cung cấp oxi cho thực vật, vi khuẩn mang lợi là khôn xiết quan trọng, chính bởi vậy, việc che kín mặt hồ làm giảm đi lượng oxy cung cấp cần phải có. SACOTEC khuyến nghị mật độ che phủ mặt hồ rơi vào 25-50% tùy điều kiện thực tiễn.

Bùn sinh ra trong công đoạn xử lí sẽ được thải bỏ về bể cất bùn. Bể cất bùn mang nhiệm vụ lắng bùn, tách bùn có nước. Bùn sau lúc tách nước sẽ được bơm hút định kì để xử lí

Tìm hiểu kỹ thuật xử lý nước thải chăn nuôi.

Ưu điểm:

– giá thành vận hành rẻ

– Tiết kiệm được mức giá vun đắp cụm bể Lắng-Trung gian-Lọc-Khử trùng

– thuận tiện kiểm soát lượng DO

– nâng cao hiệu quả xử lý sinh học 10-30% do MLSS tăng 2-3 lần so có Aerotank truyền thống.

– Giảm được triệt để SS và BOD .Hiệu suất xử lý của MBR tính theo COD, BOD đạt khoảng 90-95%

Khuyết điểm:

  • ngoài ra do hàm lượng cặn quá lớn nên thường xuyên gây nghẽn bề mặt màng lọc khiến cho mất phổ biến thời gian và công sức để vệ sinh màng lọc , khoảng 3-4h phải vệ sinh màng lọc. Bởi thế màng lọc nhanh hư hỏng gây tốn kém lúc phải thay thế thường xuyên.
  • Hàm lượng BOD,COD quá cao , xử lí không triệt để. Gây sốc vận tải và làm ngộ độc cho vi sinh chỉ mất khoảng dài.
  • Người vận hành cần yếu tri thức chuyên môn để nắm rõ trật tự xử lý và vận hành cho MLSS tăng nhanh và liên tục.

Kết luận

có quy trình công nghệ trên, SACOTEC khuyến cáo không nên tiêu dùng khoa học này vì giá tiền cao, vận hành khó,chi phí nhân lực cao, tầm giá bảo trì cao, gây ngộ độc cho vi sinh và vấn đề bảo trì trang bị không được đảm bảo.


 

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Cần dứt khoát hơn trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Tình hình ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng khi hầu hết các sống chính ở Việt Nam đều bị ô nhiễm, song song đó nguồn nước ngầm cũng đang trong tình trạng nhiễm mặn, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm bởi các hóa chất trong thuốc trừ sâu và các chất có hại khác.
Ô nhiễm nước không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Trung bình mỗi năm có 9.000 người tử vong vì nguồn nước ô nhiễm, trong khi 200.000 trường hợp khác được phát hiện ung thư mà nguyên nhân là do sử dụng nước bị ô nhiễm.


Nước thải sinh hoạt, công nghiệp: Nguồn ô nhiễm chính
Báo cáo của Cục Quản lý tài nguyên nước cho thấy, việc thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình hạn chế, chỉ một số thành phố lớn mới có công trình xử lý nước thải tập trung nhưng cũng chỉ đáp ứng được lượng nhỏ, còn lại phần lớn xả trực tiếp vào hệ thống cống. Trong khi, 70% khu công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc có nhưng không đạt quy chuẩn. Chỉ có 42 cụm công nghiệp trên tổng số 639 cụm công nghiệp, với gần 10.800 nhà máy có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Và hầu như toàn bộ nước thải công nghiệp từ làng nghề đều xả thẳng ra hồ, ao, sông ngòi.

Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất nhưng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nông dược, phân bón hóa học trong sản xuất đã làm cho nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm. Đặc biệt, trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn, hóa chất dư lắng xuống đáy hồ, lòng sông dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm chất hữu cơ, phát sinh một số sinh vật gây bệnh hoặc các loài tảo độc.

Theo thống kê, 240.000m3 nước thải công nghiệp, 600.000m3 nước thải sinh hoạt chưa qua hệ thống xử lý cộng với 7.000m3 nước thải lò mổ, bệnh viện, cơ sở sản xuất nhỏ mà chỉ 30% trong số đó được xử lý là một trong những nguồn chính dẫn đến ô nhiễm sông, hồ. Điều này lý giải tại sao hiện tượng ô nhiễm chủ yếu xảy ra ở vùng trung và hạ lưu các lưu vực sông, khu vực đông dân cư và khu công nghiệp. Hậu quả của ô nhiễm nước là việc gia tăng chi phí sản xuất, tác động tới hiệu quả và tính cạnh tranh sản phẩm, nhất là thủy sản và nông nghiệp. Song, hơn cả ô nhiễm nước tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo của các ngành chức năng, trung bình mỗi năm có 9.000 người chết vì nguồn nước ô nhiễm, 200.000 người khác được phát hiện ung thư mà nguyên nhân do sử dụng nước bị ô nhiễm.


Công nhân Công ty Thoát nước nạo vét thu gom rác thải trên sông Kim Ngưu

Cần có luật về kiểm soát ô nhiễm nước?

Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu môi trường và cộng đồng Nguyễn Ngọc Lý, vấn đề đặt ra là tại sao việc kiểm soát ô nhiễm nước được thể chế hóa tại nhiều văn bản pháp luật, nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn không được ngăn ngừa, thậm chí còn có xu hướng vượt ngoài tầm kiểm soát. Thứ nhất, thực tế Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước vẫn mang tính bao quát, nguyên tắc chung nên tính khả thi rất yếu. Quy định kiểm soát ô nhiễm nước thiếu thống nhất giữa các luật dẫn tới người thực thi khó biết cần phải làm gì, ai làm, làm như thế nào. Thứ nữa, xử lý ô nhiễm quyết định bởi hai yếu tố công nghệ và tài chính nhưng trong luật chưa quy định cụ thể nên công nghệ lạc hậu vẫn được sử dụng, dẫn đến vừa mất tiền đầu tư mà không hiệu quả. Đáng chú ý, các vụ ô nhiễm nước hầu như chỉ được biết đến nhờ truyền thông, từ phản ánh của người dân do họ quá bức xúc. Trên thế giới, nhiều nước phát triển đã trải qua giai đoạn ô nhiễm nước nghiêm trọng trong giai đoạn công nghiệp hóa và đã phải ban hành các quy định khắt khe để kiểm soát ô nhiễm nước.

Tại hội thảo "Chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước" vừa được Ủy ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường Quốc hội, Bộ Tài nguyên - Môi trường, Liên minh Nước sạch tổ chức tại Hà Nội, đã có ý kiến đề xuất Quốc hội giám sát tối cao về môi trường nước và đưa vào chương trình xây dựng luật một luật riêng kiểm soát ô nhiễm nước. Tuy nhiên, đại diện Cục Quản lý tài nguyên nước cho rằng, các quy định hiện khá toàn diện, cụ thể, rõ ràng từ biện pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả. Sở dĩ ô nhiễm nước vẫn đang là thách thức lớn vì nguồn nhân lực và tài chính hạn chế, trong khi nhận thức và ý thức chấp hành của cộng đồng chưa cao. Thực tế là, không ít cá nhân, tổ chức cố tình vi phạm pháp luật, thậm chí vi phạm quy mô lớn. Vấn đề không phải ở chỗ thiếu văn bản pháp lý mà ở ngay chính yếu tố con người. Vì vậy, chưa cần thiết có luật riêng kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mà nên tập trung tăng cường chế tài như bổ sung quy định xử lý hình sự hành vi gây ô nhiễm nguồn nước, tăng mức xử phạt hành chính; xây dựng hệ thống giám sát quốc gia hoạt động xả thải; công bố danh sách cơ sở gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm…

Có hay không luật riêng kiểm soát ô nhiễm nước còn cần bàn thêm, nhưng rõ ràng ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi những hành động quyết liệt ngay từ lúc này.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Nhiều nhà máy xử lý nước thải được xây dựng tại đồng bằng sông Cửu Long


Nhà máy xử lý nước thải thành phố Sóc Trăng. 


Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long chính phủ đã qui hoạch xây dựng ba nhà máy cấp nước với tổng công suất 4,2 triệu m3/ngày đêm để tăng năng lực cấp nước, xử lý nước thải toàn vùng giai đoan 2015 -2020.
Thông tin trên được bà Võ Thị Hồng Ánh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ cho biết tại cuộc họp với đại diện Bộ Xây dựng về xây dựng hệ thống cấp nước và hệ thống xử lý nước thải tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức tại Cần Thơ chiều 28/1.

Theo quy hoạch, từ nay đến năm 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long có ba nhà máy cấp nước mang tên Sông Hậu 1, Sông Hậu 2, Sông Hậu 3 sẽ được xây dựng.

Nhà máy nước Sông Hậu 1 được xây dựng tại Cần Thơ, có công suất giai đoạn 1 là 500.000 m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 1 triệu m3/ngày đêm, cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, vùng hành lang Tây sông Hậu; đồng thời hỗ trợ cấp nước cho các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh.

Nhà máy nước Sông Hậu 2, sẽ được xây dựng tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, công suất giai đoạn 1 là 1 triệu m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 2 triệu m3/ngày đêm, cấp nước cho thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và một phần tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu.

Nhà máy nước Sông Hậu 3 được xây dựng tại thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, công suất giai đoạn 1 là 200.000 m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 500.000m3/ngày đêm, cấp nước cho các tỉnh An Giang, Kiên Giang.

Cùng với đó, từ nay đến năm 2020 thành phố Cần Thơ xây dựng bốn nhà máy với hệ thống xử lý nước thải, tổng công suất xử lý của hệ thống xử lý nước thải là 86.000 m3/ngày đêm; thành phố Long Xuyên (tỉnh An Giang) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 34.500 m3/ngày đêm; thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 33.000 m3/ngày đêm; thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 34.500 m3/ngày đêm.

Bốn tỉnh, thành phố nói trên sử dụng công nghệ, thiết bị thoát nước phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương; trong đó ưu tiên sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại, tiết kiệm năng lượng, có tính đến khả năng nâng cấp trong tương lai.

Theo quy hoạch, tại thành phố Cần Thơ và thành phố Long Xuyên, nước thải sau khi xử lý sẽ cho thoát ra sông Hậu. Thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá cho thoát nước thải ra biển Tây sau khi xử lý.

Việc xây dựng các nhà máy nói trên được thực hiện song song với công tác cải tạo hệ thống nhà máy xử lý nước thải cũ sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giải quyết triệt để tình trạng ngập úng do mưa, bảo đảm sự phát triển kinh tế-xã hội ổn định, bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015


Chỉ số đa dạng sinh học đang được quan tâm không đúng cách và sự hời hợt đó đang gây nguy hại đến môi trường bởi nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội trên dãy Trường Sơn ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiên nhiên môi trường nơi đây do không được đánh giá đúng cách trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Thủy điện xả lũ.

Những khu bảo tồn kêu cứu

Không thể phủ nhận tác dụng giảm tải cho QL 1A và phát triển KTXH khi đường Hồ Chí Minh (HCM) mở ra, nhưng cũng bởi con đường này cắt qua quá nhiều khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và Vườn quốc gia (VQG) cũng như vùng rừng núi trên dãy Trường Sơn đã ảnh hưởng lớn đến đa dạng sinh học (ĐDSH) nơi đây.

Trong một chuyến thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), chúng tôi nhớ mãi lời một cán bộ của khu BTTN này nói mà lắc đầu lia lịa: “Việc khai thác, săn bắt trái phép lâm sản đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến khu bảo tồn. Càng báo động hơn khi đường HCM thông tuyến. Người săn bắt, khai thác trái phép lâm sản từ chỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ chuyển sang việc đưa ra tiêu thụ bên ngoài một cách ồ ạt nhờ giao thông quá thuận tiện”. Theo một nghiên cứu công bố trong cuốn sách Shood và Hùng, 2008, một nửa số hộ dân sống trong khu BTTN Bắc Hướng Hóa có ít nhất một người săn bắt thú bất hợp pháp.

Đường HCM, đặc biệt là nhánh Tây qua địa phận ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đã xuyên qua hai VQG lớn (Phong Nha – Kẻ Bàng và Bạch Mã), hai khu BTTN quan trọng (Đakrông và Bắc Hướng Hóa, cùng ở Quảng Trị) KTXH phát triển mạnh. Song mặt trái của nó kéo theo nạn lâm tặc hoành hành; nạn tận diệt thú rừng với các nhà hàng đặc sản nhan nhản, dọc nhánh đường không ít người bày bán, giới thiệu thịt thú rừng một cách ngang nhiên.


Thủy điện Đăk Mi 4 xả lũ. (Ảnh: Pháp luật Việt Nam)

Và nỗi ám ảnh thủy điện

Sự bùng nổ xây dựng các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi đang hủy hoại và làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học dãy Trường Sơn. TS. Hoàng Văn Thắng – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Moi trường, Trường ĐHQG Hà Nội đã từng kết luận rằng, khi đặt bút phê duyệt xây dựng Dự án thủy điện Rào Quán trên sông Rào Quán, thuộc Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, cơ quan chức năng đã lượng giá rừng tự nhiên nơi đây thấp hơn cả… rừng trồng. Bởi vậy họ cho rằng việc duy trì rừng tự nhiên để bảo tồn ĐDSH không hiệu quả bằng xẻ đôi khu BTTN để xây đập thủy điện. Nhưng thực tế cho thấy việc phá rừng ồ ạt đã làm cho các thảm họa môi trường ngày càng trầm trọng hơn như lũ lụt, hạn hán hàng năm…

Mặt khác, báo cáo tác động đtm cho Dự án Rào Quán khi mới triển khai không đề cập đến những tác động lớn lên rừng tự nhiên mà chỉ tập trung vào vấn đề kỹ thuật. Ước tính, hồ thuỷ điện này chặn dòng gây ngập 274ha rừng tự nhiên và 165ha rừng trồng, nhưng dự án này báo cáo tác động đtm lại chỉ tính đến giá trị của các “cây đứng” mà thôi.

Nhưng trên dãy Trường Sơn, Rào Quán chỉ là một trong hàng trăm ví dụ. Theo một đề tài của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam về “Điều tra, khảo sát, nghiên cứu báo cáo tác động đtm và đề xuất các cơ chế, chính sách, giải pháp tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi Bắc Trung Bộ” do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) thực hiện đã khẳng định: Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã làm suy giảm tính đa dạng một số loài, thay đổi điều kiện môi trường và địa bàn cư trú… của các loài động, thực vật ở dãy Trường Sơn.

Ngập lụt hạ nguồn. (Ảnh: Pháp luật Việt Nam)

Trong vòng 8 – 9 năm qua, với việc “bùng nổ” xây dựng các hồ chứa thủy điện, thủy lợi nên tài nguyên rừng, đất rừng và quy mô rừng đang bị thu hẹp và chịu sự tàn phá nặng nề đến mức báo động. Trên các lưu vực sông chính của dãy Trường Sơn, có khoảng trên dưới 100 công trình hồ thủy điện, thủy lợi với dung tích chứa nước gần 30 tỷ mét khối. Giới bảo vệ thiên nhiên, môi trường đã phải thốt lên rằng, số lượng công trình thủy điện ở các tỉnh thuộc dãy Trường Sơn đã vượt tầm kiểm soát. Mật độ quá dày đặc này đang cắt nhỏ các dòng và lưu vực sông.

Còn nhớ năm 2007, khi Thủy điện Rào Quán xả nước với lưu lượng 200m3/giây, hạ lưu sông Thạch Hãn dâng với tốc độ chóng mặt khiến hàng nghìn hộ dân huyện Triệu Phong chìm trong biển nước.

Từ năm 2008, theo quy hoạch phát triển thủy điện nhỏ, UBND tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt 18 dự án xây dựng thủy điện với tổng công suất 103,9MW. Nhưng về sau, UBND tỉnh này đã loại đi còn 8 dự án. Hiện 4 dự án đã hoàn thành việc xây dựng và đi vào hoạt động, còn lại vẫn đang triển khai xây dựng. Người dân Quảng Trị vẫn đang lo ngại rằng, sắp tới nếu toàn bộ các công trình thủy điện đi vào hoạt động và sẽ đồng loạt xả lũ khi mùa mưa bão đến, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với các huyện ở hạ lưu các sông như Thạch Hãn, Đakrông… vốn có địa hình rất dốc.

Minh chứng đầu tiên cho việc xây dựng, vận hành bất hợp lý các công trình thủy điện ở miền Trung – Tây Nguyên là cơn “đại hồng thủy” lịch sử năm 2009 tàn phá trên diện rộng từ Quảng Trị đến Ninh Thuận và Tây Nguyên, làm 179 người chết, thiệt hại khoảng 16.078 tỷ đồng. Tháng 10, 11 năm sau (2010), việc xả lũ thiếu hợp lý của các hồ chứa nước đã ngập lụt ở hầu hết hạ lưu các sông dãy Trường Sơn.

Rồi giữa tháng 11/2013, cơn bão Nari ập vào miền Trung. Riêng ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, các con số thống kê cho thấy có ít nhất 41 người chết, 5 người mất tích, 74 người bị thương và lũ quét qua đã cuốn sạch nhà cửa, tài sản, hoa màu nông nghiệp của người dân. Tại những nơi lũ đi qua, người dân và chính quyền địa phương đều bất bình “kể tội” 15 thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đồng loạt xả lũ đã gây nên tai họa này.

Dân hạ nguồn tay trắng vì thủy điện xả lũ nhưng các nhà máy thủy điện không phải chịu trách nhiệm. Bảo nhà máy thủy điện đền bù hay khắc phục cho người dân còn khó hơn lên trời. Còn nhớ, Thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) tích nước gây ngập hơn 30 hộ dân ở xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My. Bà con có chứng cứ rành rành, kéo nhau ra tòa khởi kiện, nhưng qua 2 phiên xét xử, phần thua vẫn thuộc về… chính họ!

Việt Nam được cộng đồng khoa học thế giới đánh giá là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới. Nhưng với kiểu phát triển thủy điện hiện nay, mối “hiểm hoạ” về cuộc chia tay giữa các loài động vật, thực vật quý hiếm và ĐDSH dãy Trường Sơn đang hiện hình quá rõ nét…

Tháng 11/2011, hai nhà máy thủy điện lớn nhất Thừa Thiên Huế là Bình Điền và Hương Điền đồng loạt tăng lượng xả lũ khiến hạ nguồn ngập lụt.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Báo cáo đánh giá tác động môi trường ít đề cập đến vấn đề đa dạng sinh học

Báo cáo đánh giá tác động môi trường bao lâu nay cơ quan chức năng và các doanh nghiệp vẫn xem nhẹ, là một chỉ số quan trọng trong bản báo cáo đtm nhưng bảo tồn đa dạng sinh học lại không được xem xét một cách hợp lý . Đặc biệt ở Việt Nam thì chỉ số bảo tồn đa dạng sinh học cực kỳ quan trọng.

Ít được chú ý vì thiếu tiêu chí

Theo yêu cầu của các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là việc xem xét tác động của dự án phát triển đến hệ động, thực vật và các mối quan hệ giữa chúng. Một cách lý tưởng, đánh giá tác động đến đa dạng sinh học cần được lồng ghép trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường theo phương pháp tiếp cận hệ thống. Phương pháp này được tác giả Helen Byron mô tả chi tiết trong nghiên cứu “Biodiversity and Environmental Impact Assessment: A Good Practice Guide for Road Schemes”, xuất bản năm 2000.

Phương pháp tiếp cận hệ thống các vấn đề đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mô tả của Helen Byron

Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án phát triển rất ít, thậm chí hầu như không chú ý tới tác động đến đa dạng sinh học trong quy trình thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường. Dễ có thể nhận thấy bất cập này ở rất nhiều báo cáo ĐTM thông qua một vài điểm nhận định sau.

Thứ nhất, các dự án không có sự cân nhắc thích hợp về đa dạng sinh học khi lựa chọn vị trí thực hiện dự án. Việc xem xét các phương án lựa chọn vị trí dự án được coi là vấn đề bất cập nhất trong quy trình thẩm định dự án đầu tư ở nước ta hiện nay. Hầu hết các dự án được chấp thuận địa điểm trước khi nghiên cứu báo cáo đánh giá tác động môi trường và báo cáo đầu tư. Vì vậy, các vấn đề nhạy cảm với môi trường, bao gồm đánh giá khả năng chịu tải môi trường và tính đặc thù của hệ sinh thái trong khu vực dự kiến triển khai dự án thường bị bỏ qua và ĐTM thực chất chỉ còn đóng vai trò cố gắng giảm thiểu mà không thể ngăn ngừa các tác động tiêu cực, thậm chí trong nhiều trường hợp đây là nhiệm vụ bất khả thi.

Sự ít chú ý đến tác động tới đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường ngoài ra còn thể hiện ở việc tập hợp dữ liệu hiện trạng đa dạng sinh học rất nghèo nàn. Nhìn chung, các báo cáo ĐTM hiện nay chứa rất ít thông tin, dữ liệu về hiện trạng đa dạng sinh học cũng như về phương thức sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học. Đa phần chỉ tập trung vào các hệ sinh thái cần được bảo vệ mà không chú ý đến các hệ sinh thái không được ưu tiên bảo vệ. Điều này dẫn đến một số nhận định sai lệch về cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học đặc thù cho từng khu vực. Bên cạnh đó, các thông tin về hệ sinh thái cũng mới chỉ chú ý đến số lượng mà ít chú ý đến cấp độ của đa dạng sinh học cũng như thiếu thông tin về các mối quan hệ chức năng của các hệ sinh thái.

Điểm bất cập thứ ba cũng đáng lưu tâm là tác động đến đa dạng sinh học chưa được đánh giá thực sự đầy đủ, thuyết phục. Đa dạng sinh học của một khu vực chịu nhiều tác động khác nhau từ những hoạt động phát triển khác nhau. Bất kỳ sự thay đổi nào của hệ sinh thái cũng thường là hệ quả của những tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, đặc biệt là tác động tích lũy, tuy nhiên các báo cáo đánh giá tác động môi trường hiện mới chỉ chú ý phân tích tác động trực tiếp mà hầu như bỏ qua đánh giá tác động tích lũy.

Điều đáng nói là Việt Nam hiện chưa có các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị về đa dạng sinh học để so sánh, đánh giá mức độ và tầm quan trọng của các tác động được dự báo. Các dự báo đưa ra cũng không được đánh giá về độ chắc chắn tin cậy, vì vậy các kết quả dự báo tác động thường không đầy đủ, không chính xác và không thuyết phục. Điều này dẫn đến các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và khả năng tăng cường tác động tích cực đã không được xem xét đầy đủ để đảm bảo tính khả thi cũng như hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.


Luật mới chỉ định hướng cơ bản

Hiện Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp quy liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như: Luật Bảo vệ Môi trường 2005, Nghị định số 29/2011/ND-CP và Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Luật Đa dang sinh học 2008 và Nghị định số 65/2010/ND-CP; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Nghị định số 117/2010/ND-CP và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT; Luật Thủy sản 2003 và Nghị định số 27/2005/ND-CP.

Trong các văn bản pháp pháp quy nêu trên, đa dạng sinh học được coi là một nội dung của môi trường tự nhiên, có tiềm năng chịu tác động từ các hoạt động phát triển, vì vậy tác động đến đa dạng sinh học cần được đánh giá và cần đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực trong quy trình đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) hoặc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tương tự như các thành phần môi trường tự nhiên khác.

Mặc dù cũng quy định các nguyên tắc chung về bảo vệ đa dạng sinh học, song các văn bản lại không quy định cụ thể về các nội dung đánh giá tác động đa dạng sinh học và nhất là không đề cập đến việc cần thiết xây dựng các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị đa dạng sinh học quốc gia để so sánh khi đánh giá.

Các dự án tiềm ẩn tác động đến đa dạng sinh học tuy đã được đưa vào danh mục phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng lại không có quy định cần lưu ý đến các tác động nào (loại tác động, quy mô tác động).

Nhìn chung, trong những văn bản pháp kể trên , quy định về đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong ĐMC, ĐTM chỉ là những định hướng cơ bản, chưa đủ rõ ràng để thực hiện, vì vậy đã dẫn đến những bất cập khi triển khai trong thực tế.

Một số khuyến nghị

Thực tế thẩm định các dự án phát triển trong thời gian qua, đặc biệt là các dự án thủy điện, khai khoáng, phát triển cảng biển… cho thấy cần sớm đưa quy định về lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM, ĐMC vào các Luật liên quan, trước hết là Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) hoặc Luật Đa dạng sinh học (dự kiến sửa đổi trong thời gian tới).

Nguyên tắc và nội dung lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường có thể dựa trên một số gợi ý sau:

Thứ nhất, việc lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là một cách tiếp cận tổng thể và toàn diện để xem xét tác động của các dự án phát triển đến hệ động thực vật và dịch vụ hệ sinh thái cũng như các mối quan hệ giữa chúng. Cách tiếp cận này sẽ hỗ trợ giảm thiểu tối đa tác động đến đa dạng sinh học của các dự án phát triển, đảm bảo dự án phát triển được tích hợp với cân nhắc bảo tồn đa dạng sinh học và phù hợp về mặt pháp lý cũng như cung cấp và chia sẻ công bằng những lợi ích phát sinh từ việc sử dụng đa dạng sinh học.

Thứ hai, lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong các dự án phát triển thông qua công cụ báo cáo đánh giá tác động môi trường là cách làm phổ biến và có hiệu quả nhất hiện nay. Đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là đánh giá tác động tiềm năng từ các hoạt động của dự án phát triển đến chất lượng của môi trường vật lý cần thiết để duy trì các hệ sinh thái và các loài trong hệ sinh thái này. Cần đặc biệt lưu ý các tác động đến các loài tạo nên yếu tố tự nhiên của đa dạng sinh học bản địa, các loại môi trường sống và các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau của các loài sinh vật sống trong môi trường đó.

Thứ ba, các quy định về lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong báo cáo đánh giá tác động môi trường cần cụ thể, tập trung vào những nội dung chính và cần có quy định về các tác động đến đa dạng sinh học phải đặc biệt lưu ý khi đánh giá. Cần sớm xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị ĐDSH quốc gia để sử dụng so sánh khi đánh giá. Bên cạnh đó, tham vấn cộng đồng cũng phải được coi là nội dung quan trọng không thể thiếu trong đánh giá tác động đến đa dạng sinh học.

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Người dám thử uống nước dòng sông chết liệu có tồn tại ?

Chắc ai cũng biết dòng sông Tô Lịch vốn nổi tiếng là dòng sông chết vì tình trạng ô nhiễm của dòng sông đã vượt mức độ thông thường có thể chấp nhận được. Câu hỏi đặt ra là "Ai đã dám liều mình uống nước sông Tô Lịch". Vâng không ai khác ngươi đó chính là PGS.TS Trân Hồng Côn giảng viên khoa Hóa, đại học Tự Nhiên - ĐHQG).
Việc ông có thể lọc nước sông trở thành nước sạch và uống trực tiếp đã khiến cho không ít người tò mò, thán phục và cả hoài nghi. Không chỉ nổi tiếng với việc uống nước sông Tô Lịch, ông còn là người đầu tiên vẽ bản đồ nước ngầm nhiễm asen ở Hà Nội và tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng này.



Ý tưởng về việc vẽ “bản đồ” nguồn nước ngầm bị nhiễm asen ở Hà Nội đến với PGS.TS Trần Hồng Côn một cách hoàn toàn tình cờ. Đó là thời điểm năm 1996, trong một lần ông nhận được các mẫu của một đồng nghiệp nhờ phân tích, nghiên cứu chất lượng nguồn nước ngầm tại Hà Nội. Kết quả phân tích khiến ông hết sức bàng hoàng. Ông cho biết, trong khoảng 30 mẫu nước ngầm của Hà Nội được khảo sát, phân tích khi đó thì có đến 10 mẫu bị nhiễm asen (hay còn gọi là thạch tín) cao hơn mức cho phép nhiều lần.

Mặc dù đó chỉ là một công việc chuyên môn thuần túy, tuy nhiên kết quả của nghiên cứu này đã khiến PGS.TS Trần Hồng Côn bị đau đầu tìm cách khắc phục nhiêu ngày sau đó. Những suy nghĩ về việc nguồn nước ngầm Hà Nội đang bị “đầu độc” ở những khu vực nào và ở mức độ ra sao luôn đeo bám ông một cách dai dẳng, khiến ông phải trăn trở và đi đến quyết định phải tiến hành khảo sát và đánh giá về mức độ nhiễm asen của nguồn nước ngầm tại Hà Nội.

May mắn là khi đó có một Quỹ phát triển tiềm năng của Thụy Sỹ đã tài trợ kinh phí để ông có điều kiện tiến hành khảo sát thực trạng và lập nên bản đồ phác thảo các điểm bị nhiễm asen gồm 8 nhà máy nước nội thành và các giếng khoan của người dân ngoại thành. Dựa trên kết quả nghiên cứu này cho thấy hiện trạng nước ngầm trên địa bàn TP.Hà Nội có đến 30% điểm giếng khảo sát có mức độ nhiễm asen trên 0,05mg/lít, còn ở mức vượt trên ngưỡng cho phép 0,01mg/lít thì có tới 50%.

Theo PGS.TS Trần Hồng Côn, việc một số nguồn nước ngầm ở Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng bị nhiễm Asen hoàn toàn xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên. Theo cơ chế mưa xối xuống núi, phong hóa các chất, tạo thành phù sa theo các sông chảy về bồi tích thành đồng bằng, đồng bằng tích lũy các chất như asen 5 và kết tủa của nó cộng với lá cây phân hủy tạo thành yếm khí do đó không giải phóng được asen trong nước ngầm.

Theo lý giải của PGS.TS Trần Hồng Côn, công nghệ xử lý nước cấp của chúng ta có xử lý asen nhưng lại không chủ định. Lượng sắt nhiễm tương đối cao trong nước luôn có trong nước ngầm ở đồng bằng sông Hồng, nước rất đục không thể ăn uống, tắm giặt được, nên muốn sử dụng nguồn nước này đều phải xử lý bằng cách lọc truyền thống đó là xây bể lọc cát để lọc lấy nước trong. Bằng cách xử lý này, khi qua bể lọc cát, sắt trong nước bị oxi hóa kết tủa lại, đọng trong cát, asen cũng bị thu vào đó mà giảm đi nhiều.

Nếu như hàm lượng sắt đủ lớn thì nó sẽ làm giảm hàm lượng asen tới 90%, còn thông thường nó có thể đạt từ 30-70%. Tuy nhiên do việc xử lý asen không chủ định nên có một “nghịch lý” là các bể lọc nước nếu để lâu ngày tích lũy được nhiều Hydroxit sắt thì khả năng xử lý asen tốt hơn. Trong khi đó bể lọc lại cần phải được thường xuyên rửa để khả năng lọc nước được tốt tăng thêm khả năng lọc sắt. Chính điều này đã làm giảm khả năng giữ asen, khiến lượng asen còn lại trong nước có thể cao hơn. Tại các nhà máy nước hiện nay vẫn giữ công nghệ lọc nước truyền thống, lọc sắt là chính, lọc asen một cách không chủ định nên nếu ở nơi có hàm lượng asen cao thì asen trong nước sau xử lý cũng cao hơn và ngược lại.
Tô Lịch , Kim Ngưu hai con sống ô nhiễm nay đã có thể trở thành nước uống


Bản đồ nghiên cứu, khảo sát hiện trạng nhiễm asen trong nước ngầm ở khu vực Hà Nội đã được PGS.TS Trần Hồng Côn tiến hành liên tục từ năm 1998 đến 2000. Bài toán đặt ra với PGS.TS Trần Hồng Côn lúc đó là phải tìm ra những giải pháp để có thể lọc sạch các nguyên tố asen ở trong nước ngầm tại Hà Nội một cách độc lập.

Sau nhiều ngày đêm trăn trở, thật sự rất khó khăn để tìm cách phân giải được hợp chất asen trong nước đối với PGS.TS Trần Hồng Côn. Rất nhiều phương pháp đã được đặt ra tuy nhiên vẫn chưa cho ra một kết quả tối ưu. Tình cờ, lời giải cho bài toán đã đến với ông một cách hoàn toàn ngẫu nhiên mà nói như ông đó là một “cơ duyên”.

Ông kể, trong một lần cơ quan ông tổ chức đi thăm quan tại khu di tích lịch sử K9 thuộc huyện Ba Vì - Hà Nội, sau bữa ăn trưa ông ra rửa mặt tại một giếng khơi nằm trong khu di tích. Khi vừa chạm vào dòng nước mát được lấy từ giếng lên, với kinh nghiệm của một người nghiên cứu về nước ông cảm nhận rõ sự trong mát. Khi uống thử cảm thấy nước giếng có vị rất ngọt và ngon.

Nhận thấy sự khác biệt đó, PGS.TS Trần Hồng Côn đem câu chuyện hỏi anh đầu bếp thì được biết, ở khu vực này, nếu những giếng nào đào trúng vào tầng đá ong thì cũng đều cho nước rất sạch và ngon.

Khảo sát thử một số giếng trong thôn có tầng đá ong ở khu vực này cũng đều cho những kết quả tương tự. Một ý tưởng bật ra trong đầu của ông, liền sau đó ông mang những cục đá ong về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu từ đá ong đã cho một kết quả hoàn hảo.

Đá ong sau khi được xử lý có thể lọc sạch được asen trong nước ở hàm lượng trong mức cho phép. Kết quả nghiên cứu này của ông sau đó đã được ứng dụng thành nhiều các giải pháp để lọc nước tại các khu vực nguồn nước bị nhiễm asen. Cùng với giải pháp từ đá ong, công trình nghiên cứu về bản đồ nhiễm asen trên địa bàn Hà Nội của ông sau đó đã được công bố trên Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường tại Mỹ.

Biến nước sông Tô Lịch, Kim Ngưu thành… nước uống

Mới đây, chuyện PGS.TS Trần Hồng Côn trực tiếp uống nước sông Tô Lịch sau khi qua cột lọc do ông chế tạo đã khiến cho không ít người sửng sốt và xen lẫn cả hoài nghi. Khi được hỏi, PGS.TS Trần Hồng Côn cười vui vẻ. Ông cho biết chuyện uống nước sông Tô Lịch xuất phát từ đề tài nghiên cứu của ông cách đây hơn 3 năm. Đó là việc chế tạo thiết bị lọc nhiều tầng để khử kim loại nặng, chất hữu cơ và vi khuẩn có hại trong nước sinh hoạt thành nước uống trực tiếp.

Một điều rất đặc biệt là ý tưởng để cho ra đời đề tài này đã được nhen nhóm từ lúc ông tiến hành nghiên cứu cách lọc asen trong nước. PGS.TS Trần Hồng Côn kể sau khi đã tìm ra giải pháp để xử lý được asen trong nước từ đá ong, một suy nghĩ lướt qua trong ông, đó là đã có công nghệ xử lý được chất độc asen, tại sao không tiếp tục nghiên cứu để xử lý các chất hữu cơ độc hại khác có ở trong nguồn nước. Lần lượt hàng nghìn vật liệu đã được ông chọn lọc, sử dụng để đưa vào nghiên cứu của mình.

Sau nhiều năm nghiên cứu, ông đã tìm ra được những vật liệu tuy rẻ tiền những mang lại những giá trị hiệu quả rất cao như đất sét ở Trúc Thôn, Đá Son ở Núi Đèo, Than gáo dừa ở Trà Bắc… Theo đuổi ý tưởng sẽ tạo ra một nguồn nước sạch có thể sử dụng an toàn và cung cấp cho sinh hoạt, một vấn đề đặt ra với PGS.TS Trần Hồng Côn là phải xử lý được các nguồn nguy hại về sinh học sống trong môi trường nước. Đó là những loại vi trùng, vi khuẩn, vi rút… có nguy cơ lây bệnh cao.

Đối với ông, đây được coi là một thách thức lớn. Bởi dù có thể dùng clo, tia cực tím, ozon để tiệt trùng nước rất hiệu quả, song lại không thể tích hợp những thiết bị như vậy trong một máy lọc nước nhỏ gọn.


Qua nghiên cứu, tìm hiểu, ông phát hiện bạc có khả năng tiệt trùng rất tốt, tuy nhiên do giá thành cao nên việc ứng dụng vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn. “Đúng trong giai đoạn tìm hướng đi cho nghiên cứu của mình thì công nghệ Nano bắt đầu được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Ngay khi biết chúng ta có thể điều chế được nano bạc, tôi đã lập tức ứng dụng vào công trình lọc nước của mình. Công nghệ nano bạc không chỉ giúp cho việc tiết giảm chi phí trong việc giảm bớt lượng bạc từ vài chục gram xuống còn vài mini gram mà còn tăng khả năng diệt khuẩn cỡ 200 lần”, ông cho biết.

Để chứng minh cho hiệu quả của các cột lọc nước đồng thời để thử được các loại vật liệu tối ưu theo ý muốn, PGS.TS Trần Hồng Côn đã từng nhiều lần múc nước từ nhà vệ sinh và lấy nước sông Kim Ngưu để làm thử nghiệm. Các loại nước này sau khi qua cột lọc do ông chế tạo đã được đưa đến Viện Vệ sinh dịch tễ và Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng để kiểm tra. Kết quả cho thấy những sản phẩm này đạt chỉ tiêu của nước uống đóng chai.

Sau 2 năm nghiên cứu Đề tài khoa học về máy lọc nước được xếp 4 tầng lọc để chuyên xử lý kim loại nặng, chất hữu cơ và amoni, asen đồng thời có khả năng tiệt trùng của ông đã được nghiệm thu và được đánh giá xuất sắc.

Trong khi “biểu diễn” khả năng lọc nước sông Tô lịch thành nước sạch có thể uống được tại chỗ, có sự chứng kiến của rất nhiều người PGS.TS Trần Hồng Côn cho biết, mục đích lớn nhất trong đề tài nghiên cứu của ông là có thể giúp cho những người dân sống ở những nơi có nguồn nước bị ô nhiễm, những nơi bị lũ lụt hay những vùng nông thôn thiếu nước sạch có khả năng tái chế nguồn nước đã bị ô nhiễm để phục vụ cho sinh hoạt.
Ưu điểm nổi bật về sản phẩm lọc nước của PGS.TS Trần Hồng Côn là công nghệ hấp thu chọn lọc. Nước được lọc qua thiết bị này giữ được những khoáng chất cần thiết với hàm lượng có lợi cho cơ thể. Ngoài ra nó không cần phải sử dụng điện năng và rất thân thiện với môi trường vì có chu trình khép kín không thải nước độc ra môi trường.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Không phải do công nghệ chưa cao


Một trong những dự án cấp bách cấp điện cho miền Nam đó chính là nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 là nhà máy có tổ công suất lớn nhất VN từ trước đến nay. Từ đầu năm đến nay nhà máy điện Vĩnh Tân 2 đã đạt sản lượng điện hơn 1.4 tỉ kWh, góp phần vô cùng quan trọng đảm bảo cấp điện cho toàn miễn nam. Nhà máy này được đầu tư xây dựng với công nghệ cực kỳ hiện đại.

* Nhà máy do nhà thầu Trung Quốc thi công, nhiên liệu không chỉ dùng than mà dùng cả dầu để đốt, liệu có đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường?

- Dự án do Tập đoàn Điện khí Thượng Hải - Trung Quốc (SEC) làm tổng thầu. Nhiên liệu chính sử dụng cho nhà máy là than cám 6A (Hòn Gai - Cẩm Phả), dầu HFO chỉ được dùng làm nhiên liệu trong quá trình khởi động và đốt bổ sung khi tổ máy vận hành ở tải thấp. Các nhà máy nhiệt điện sử dụng than anthracite (loại than phổ biến ở VN) đều được thiết kế như vậy.

Theo đánh giá chuyên môn, Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có trang bị các hệ thống xử lý nước thải ra môi trường với công nghệ tiên tiến trên thế giới như hệ thống khử NOx (SCR), hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống khử SOx (FGD) và hệ thống xử lý nước thải. Khí thải, nước thải của nhà máy sau khi xử lý đều đạt các tiêu chuẩn về môi trường. Kho than được trang bị hệ thống lưới che chắn bụi. Bãi thải xỉ có xe phun nước, xe lu lèn theo từng lớp để đảm bảo không phát tán bụi ra môi trường xung quanh.

* Nhưng thực tế người dân kêu khói bụi rất mạnh, không phải vô cớ mà bà con địa phương có thái độ phản ứng gay gắt?

- Quá trình thử nghiệm, nghiệm thu để đưa các tổ máy vào vận hành cũng có xảy ra hiện tượng phát tán bụi trong quá trình vận chuyển tro xỉ và tại bãi thải xỉ, gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Nguyên nhân khách quan là do tình trạng gió mạnh, khô hạn nắng nóng kéo dài, thiếu nước ngọt trầm trọng xảy ra trên địa bàn.

Trong khi đó đường vận hành phục vụ vận chuyển tro xỉ của nhà máy ra bãi thải xỉ đang thi công, các xe vận chuyển tro xỉ phải tạm thời đi qua quốc lộ 1 và đường dân sinh. Việc vận chuyển tro xỉ khó tránh khỏi phát tán bụi ra môi trường xung quanh dù các xe đều có bạt chắn bụi. Đó là chưa kể quốc lộ 1 cũng đang thi công mở rộng, khi xe lưu thông trên đường sẽ gây phát tán bụi.

* Vậy có nghĩa tình trạng bụi sẽ sớm được khắc phục?

- GENCO 3 đã làm việc với chính quyền và người dân địa phương để giải thích về các biện pháp bảo vệ môi trường và cùng giám sát việc vận chuyển, lưu giữ tro xỉ tại bãi thải xỉ. Chúng tôi còn khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo môi trường tại Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Cụ thể như GENCO 3 làm sạch, gia cố đường dân sinh để đảm bảo việc chở xỉ trong thời gian hoàn thiện đường vận hành chính thức. Bố trí người kiểm tra, giám sát, tuyệt đối không cho phép các xe chở xỉ che chắn không kỹ tham gia vận chuyển. Huy động xe bồn đặc dụng chở nước tưới cho đường vận chuyển tro xỉ, hạn chế tối đa phát tán bụi ra môi trường.

Thực tế cho thấy tình trạng phát tán bụi ở khu vực này đã được hạn chế đáng kể, sẽ khắc phục hoàn toàn khi hoàn thành đường vận chuyển riêng của nhà máy.