Hiển thị các bài đăng có nhãn xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Cần dứt khoát hơn trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Tình hình ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng khi hầu hết các sống chính ở Việt Nam đều bị ô nhiễm, song song đó nguồn nước ngầm cũng đang trong tình trạng nhiễm mặn, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm bởi các hóa chất trong thuốc trừ sâu và các chất có hại khác.
Ô nhiễm nước không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Trung bình mỗi năm có 9.000 người tử vong vì nguồn nước ô nhiễm, trong khi 200.000 trường hợp khác được phát hiện ung thư mà nguyên nhân là do sử dụng nước bị ô nhiễm.


Nước thải sinh hoạt, công nghiệp: Nguồn ô nhiễm chính
Báo cáo của Cục Quản lý tài nguyên nước cho thấy, việc thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình hạn chế, chỉ một số thành phố lớn mới có công trình xử lý nước thải tập trung nhưng cũng chỉ đáp ứng được lượng nhỏ, còn lại phần lớn xả trực tiếp vào hệ thống cống. Trong khi, 70% khu công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc có nhưng không đạt quy chuẩn. Chỉ có 42 cụm công nghiệp trên tổng số 639 cụm công nghiệp, với gần 10.800 nhà máy có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Và hầu như toàn bộ nước thải công nghiệp từ làng nghề đều xả thẳng ra hồ, ao, sông ngòi.

Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất nhưng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nông dược, phân bón hóa học trong sản xuất đã làm cho nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm. Đặc biệt, trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn, hóa chất dư lắng xuống đáy hồ, lòng sông dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm chất hữu cơ, phát sinh một số sinh vật gây bệnh hoặc các loài tảo độc.

Theo thống kê, 240.000m3 nước thải công nghiệp, 600.000m3 nước thải sinh hoạt chưa qua hệ thống xử lý cộng với 7.000m3 nước thải lò mổ, bệnh viện, cơ sở sản xuất nhỏ mà chỉ 30% trong số đó được xử lý là một trong những nguồn chính dẫn đến ô nhiễm sông, hồ. Điều này lý giải tại sao hiện tượng ô nhiễm chủ yếu xảy ra ở vùng trung và hạ lưu các lưu vực sông, khu vực đông dân cư và khu công nghiệp. Hậu quả của ô nhiễm nước là việc gia tăng chi phí sản xuất, tác động tới hiệu quả và tính cạnh tranh sản phẩm, nhất là thủy sản và nông nghiệp. Song, hơn cả ô nhiễm nước tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo của các ngành chức năng, trung bình mỗi năm có 9.000 người chết vì nguồn nước ô nhiễm, 200.000 người khác được phát hiện ung thư mà nguyên nhân do sử dụng nước bị ô nhiễm.


Công nhân Công ty Thoát nước nạo vét thu gom rác thải trên sông Kim Ngưu

Cần có luật về kiểm soát ô nhiễm nước?

Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu môi trường và cộng đồng Nguyễn Ngọc Lý, vấn đề đặt ra là tại sao việc kiểm soát ô nhiễm nước được thể chế hóa tại nhiều văn bản pháp luật, nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn không được ngăn ngừa, thậm chí còn có xu hướng vượt ngoài tầm kiểm soát. Thứ nhất, thực tế Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước vẫn mang tính bao quát, nguyên tắc chung nên tính khả thi rất yếu. Quy định kiểm soát ô nhiễm nước thiếu thống nhất giữa các luật dẫn tới người thực thi khó biết cần phải làm gì, ai làm, làm như thế nào. Thứ nữa, xử lý ô nhiễm quyết định bởi hai yếu tố công nghệ và tài chính nhưng trong luật chưa quy định cụ thể nên công nghệ lạc hậu vẫn được sử dụng, dẫn đến vừa mất tiền đầu tư mà không hiệu quả. Đáng chú ý, các vụ ô nhiễm nước hầu như chỉ được biết đến nhờ truyền thông, từ phản ánh của người dân do họ quá bức xúc. Trên thế giới, nhiều nước phát triển đã trải qua giai đoạn ô nhiễm nước nghiêm trọng trong giai đoạn công nghiệp hóa và đã phải ban hành các quy định khắt khe để kiểm soát ô nhiễm nước.

Tại hội thảo "Chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước" vừa được Ủy ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường Quốc hội, Bộ Tài nguyên - Môi trường, Liên minh Nước sạch tổ chức tại Hà Nội, đã có ý kiến đề xuất Quốc hội giám sát tối cao về môi trường nước và đưa vào chương trình xây dựng luật một luật riêng kiểm soát ô nhiễm nước. Tuy nhiên, đại diện Cục Quản lý tài nguyên nước cho rằng, các quy định hiện khá toàn diện, cụ thể, rõ ràng từ biện pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả. Sở dĩ ô nhiễm nước vẫn đang là thách thức lớn vì nguồn nhân lực và tài chính hạn chế, trong khi nhận thức và ý thức chấp hành của cộng đồng chưa cao. Thực tế là, không ít cá nhân, tổ chức cố tình vi phạm pháp luật, thậm chí vi phạm quy mô lớn. Vấn đề không phải ở chỗ thiếu văn bản pháp lý mà ở ngay chính yếu tố con người. Vì vậy, chưa cần thiết có luật riêng kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mà nên tập trung tăng cường chế tài như bổ sung quy định xử lý hình sự hành vi gây ô nhiễm nguồn nước, tăng mức xử phạt hành chính; xây dựng hệ thống giám sát quốc gia hoạt động xả thải; công bố danh sách cơ sở gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm…

Có hay không luật riêng kiểm soát ô nhiễm nước còn cần bàn thêm, nhưng rõ ràng ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi những hành động quyết liệt ngay từ lúc này.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Nhiều nhà máy xử lý nước thải được xây dựng tại đồng bằng sông Cửu Long


Nhà máy xử lý nước thải thành phố Sóc Trăng. 


Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long chính phủ đã qui hoạch xây dựng ba nhà máy cấp nước với tổng công suất 4,2 triệu m3/ngày đêm để tăng năng lực cấp nước, xử lý nước thải toàn vùng giai đoan 2015 -2020.
Thông tin trên được bà Võ Thị Hồng Ánh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ cho biết tại cuộc họp với đại diện Bộ Xây dựng về xây dựng hệ thống cấp nước và hệ thống xử lý nước thải tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức tại Cần Thơ chiều 28/1.

Theo quy hoạch, từ nay đến năm 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long có ba nhà máy cấp nước mang tên Sông Hậu 1, Sông Hậu 2, Sông Hậu 3 sẽ được xây dựng.

Nhà máy nước Sông Hậu 1 được xây dựng tại Cần Thơ, có công suất giai đoạn 1 là 500.000 m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 1 triệu m3/ngày đêm, cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, vùng hành lang Tây sông Hậu; đồng thời hỗ trợ cấp nước cho các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh.

Nhà máy nước Sông Hậu 2, sẽ được xây dựng tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, công suất giai đoạn 1 là 1 triệu m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 2 triệu m3/ngày đêm, cấp nước cho thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và một phần tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu.

Nhà máy nước Sông Hậu 3 được xây dựng tại thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, công suất giai đoạn 1 là 200.000 m3/ngày đêm, giai đoạn 2 là 500.000m3/ngày đêm, cấp nước cho các tỉnh An Giang, Kiên Giang.

Cùng với đó, từ nay đến năm 2020 thành phố Cần Thơ xây dựng bốn nhà máy với hệ thống xử lý nước thải, tổng công suất xử lý của hệ thống xử lý nước thải là 86.000 m3/ngày đêm; thành phố Long Xuyên (tỉnh An Giang) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 34.500 m3/ngày đêm; thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 33.000 m3/ngày đêm; thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau) xây dựng ba nhà máy xử lý, tổng công suất 34.500 m3/ngày đêm.

Bốn tỉnh, thành phố nói trên sử dụng công nghệ, thiết bị thoát nước phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương; trong đó ưu tiên sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại, tiết kiệm năng lượng, có tính đến khả năng nâng cấp trong tương lai.

Theo quy hoạch, tại thành phố Cần Thơ và thành phố Long Xuyên, nước thải sau khi xử lý sẽ cho thoát ra sông Hậu. Thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá cho thoát nước thải ra biển Tây sau khi xử lý.

Việc xây dựng các nhà máy nói trên được thực hiện song song với công tác cải tạo hệ thống nhà máy xử lý nước thải cũ sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giải quyết triệt để tình trạng ngập úng do mưa, bảo đảm sự phát triển kinh tế-xã hội ổn định, bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Người dám thử uống nước dòng sông chết liệu có tồn tại ?

Chắc ai cũng biết dòng sông Tô Lịch vốn nổi tiếng là dòng sông chết vì tình trạng ô nhiễm của dòng sông đã vượt mức độ thông thường có thể chấp nhận được. Câu hỏi đặt ra là "Ai đã dám liều mình uống nước sông Tô Lịch". Vâng không ai khác ngươi đó chính là PGS.TS Trân Hồng Côn giảng viên khoa Hóa, đại học Tự Nhiên - ĐHQG).
Việc ông có thể lọc nước sông trở thành nước sạch và uống trực tiếp đã khiến cho không ít người tò mò, thán phục và cả hoài nghi. Không chỉ nổi tiếng với việc uống nước sông Tô Lịch, ông còn là người đầu tiên vẽ bản đồ nước ngầm nhiễm asen ở Hà Nội và tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng này.



Ý tưởng về việc vẽ “bản đồ” nguồn nước ngầm bị nhiễm asen ở Hà Nội đến với PGS.TS Trần Hồng Côn một cách hoàn toàn tình cờ. Đó là thời điểm năm 1996, trong một lần ông nhận được các mẫu của một đồng nghiệp nhờ phân tích, nghiên cứu chất lượng nguồn nước ngầm tại Hà Nội. Kết quả phân tích khiến ông hết sức bàng hoàng. Ông cho biết, trong khoảng 30 mẫu nước ngầm của Hà Nội được khảo sát, phân tích khi đó thì có đến 10 mẫu bị nhiễm asen (hay còn gọi là thạch tín) cao hơn mức cho phép nhiều lần.

Mặc dù đó chỉ là một công việc chuyên môn thuần túy, tuy nhiên kết quả của nghiên cứu này đã khiến PGS.TS Trần Hồng Côn bị đau đầu tìm cách khắc phục nhiêu ngày sau đó. Những suy nghĩ về việc nguồn nước ngầm Hà Nội đang bị “đầu độc” ở những khu vực nào và ở mức độ ra sao luôn đeo bám ông một cách dai dẳng, khiến ông phải trăn trở và đi đến quyết định phải tiến hành khảo sát và đánh giá về mức độ nhiễm asen của nguồn nước ngầm tại Hà Nội.

May mắn là khi đó có một Quỹ phát triển tiềm năng của Thụy Sỹ đã tài trợ kinh phí để ông có điều kiện tiến hành khảo sát thực trạng và lập nên bản đồ phác thảo các điểm bị nhiễm asen gồm 8 nhà máy nước nội thành và các giếng khoan của người dân ngoại thành. Dựa trên kết quả nghiên cứu này cho thấy hiện trạng nước ngầm trên địa bàn TP.Hà Nội có đến 30% điểm giếng khảo sát có mức độ nhiễm asen trên 0,05mg/lít, còn ở mức vượt trên ngưỡng cho phép 0,01mg/lít thì có tới 50%.

Theo PGS.TS Trần Hồng Côn, việc một số nguồn nước ngầm ở Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng bị nhiễm Asen hoàn toàn xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên. Theo cơ chế mưa xối xuống núi, phong hóa các chất, tạo thành phù sa theo các sông chảy về bồi tích thành đồng bằng, đồng bằng tích lũy các chất như asen 5 và kết tủa của nó cộng với lá cây phân hủy tạo thành yếm khí do đó không giải phóng được asen trong nước ngầm.

Theo lý giải của PGS.TS Trần Hồng Côn, công nghệ xử lý nước cấp của chúng ta có xử lý asen nhưng lại không chủ định. Lượng sắt nhiễm tương đối cao trong nước luôn có trong nước ngầm ở đồng bằng sông Hồng, nước rất đục không thể ăn uống, tắm giặt được, nên muốn sử dụng nguồn nước này đều phải xử lý bằng cách lọc truyền thống đó là xây bể lọc cát để lọc lấy nước trong. Bằng cách xử lý này, khi qua bể lọc cát, sắt trong nước bị oxi hóa kết tủa lại, đọng trong cát, asen cũng bị thu vào đó mà giảm đi nhiều.

Nếu như hàm lượng sắt đủ lớn thì nó sẽ làm giảm hàm lượng asen tới 90%, còn thông thường nó có thể đạt từ 30-70%. Tuy nhiên do việc xử lý asen không chủ định nên có một “nghịch lý” là các bể lọc nước nếu để lâu ngày tích lũy được nhiều Hydroxit sắt thì khả năng xử lý asen tốt hơn. Trong khi đó bể lọc lại cần phải được thường xuyên rửa để khả năng lọc nước được tốt tăng thêm khả năng lọc sắt. Chính điều này đã làm giảm khả năng giữ asen, khiến lượng asen còn lại trong nước có thể cao hơn. Tại các nhà máy nước hiện nay vẫn giữ công nghệ lọc nước truyền thống, lọc sắt là chính, lọc asen một cách không chủ định nên nếu ở nơi có hàm lượng asen cao thì asen trong nước sau xử lý cũng cao hơn và ngược lại.
Tô Lịch , Kim Ngưu hai con sống ô nhiễm nay đã có thể trở thành nước uống


Bản đồ nghiên cứu, khảo sát hiện trạng nhiễm asen trong nước ngầm ở khu vực Hà Nội đã được PGS.TS Trần Hồng Côn tiến hành liên tục từ năm 1998 đến 2000. Bài toán đặt ra với PGS.TS Trần Hồng Côn lúc đó là phải tìm ra những giải pháp để có thể lọc sạch các nguyên tố asen ở trong nước ngầm tại Hà Nội một cách độc lập.

Sau nhiều ngày đêm trăn trở, thật sự rất khó khăn để tìm cách phân giải được hợp chất asen trong nước đối với PGS.TS Trần Hồng Côn. Rất nhiều phương pháp đã được đặt ra tuy nhiên vẫn chưa cho ra một kết quả tối ưu. Tình cờ, lời giải cho bài toán đã đến với ông một cách hoàn toàn ngẫu nhiên mà nói như ông đó là một “cơ duyên”.

Ông kể, trong một lần cơ quan ông tổ chức đi thăm quan tại khu di tích lịch sử K9 thuộc huyện Ba Vì - Hà Nội, sau bữa ăn trưa ông ra rửa mặt tại một giếng khơi nằm trong khu di tích. Khi vừa chạm vào dòng nước mát được lấy từ giếng lên, với kinh nghiệm của một người nghiên cứu về nước ông cảm nhận rõ sự trong mát. Khi uống thử cảm thấy nước giếng có vị rất ngọt và ngon.

Nhận thấy sự khác biệt đó, PGS.TS Trần Hồng Côn đem câu chuyện hỏi anh đầu bếp thì được biết, ở khu vực này, nếu những giếng nào đào trúng vào tầng đá ong thì cũng đều cho nước rất sạch và ngon.

Khảo sát thử một số giếng trong thôn có tầng đá ong ở khu vực này cũng đều cho những kết quả tương tự. Một ý tưởng bật ra trong đầu của ông, liền sau đó ông mang những cục đá ong về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu từ đá ong đã cho một kết quả hoàn hảo.

Đá ong sau khi được xử lý có thể lọc sạch được asen trong nước ở hàm lượng trong mức cho phép. Kết quả nghiên cứu này của ông sau đó đã được ứng dụng thành nhiều các giải pháp để lọc nước tại các khu vực nguồn nước bị nhiễm asen. Cùng với giải pháp từ đá ong, công trình nghiên cứu về bản đồ nhiễm asen trên địa bàn Hà Nội của ông sau đó đã được công bố trên Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường tại Mỹ.

Biến nước sông Tô Lịch, Kim Ngưu thành… nước uống

Mới đây, chuyện PGS.TS Trần Hồng Côn trực tiếp uống nước sông Tô Lịch sau khi qua cột lọc do ông chế tạo đã khiến cho không ít người sửng sốt và xen lẫn cả hoài nghi. Khi được hỏi, PGS.TS Trần Hồng Côn cười vui vẻ. Ông cho biết chuyện uống nước sông Tô Lịch xuất phát từ đề tài nghiên cứu của ông cách đây hơn 3 năm. Đó là việc chế tạo thiết bị lọc nhiều tầng để khử kim loại nặng, chất hữu cơ và vi khuẩn có hại trong nước sinh hoạt thành nước uống trực tiếp.

Một điều rất đặc biệt là ý tưởng để cho ra đời đề tài này đã được nhen nhóm từ lúc ông tiến hành nghiên cứu cách lọc asen trong nước. PGS.TS Trần Hồng Côn kể sau khi đã tìm ra giải pháp để xử lý được asen trong nước từ đá ong, một suy nghĩ lướt qua trong ông, đó là đã có công nghệ xử lý được chất độc asen, tại sao không tiếp tục nghiên cứu để xử lý các chất hữu cơ độc hại khác có ở trong nguồn nước. Lần lượt hàng nghìn vật liệu đã được ông chọn lọc, sử dụng để đưa vào nghiên cứu của mình.

Sau nhiều năm nghiên cứu, ông đã tìm ra được những vật liệu tuy rẻ tiền những mang lại những giá trị hiệu quả rất cao như đất sét ở Trúc Thôn, Đá Son ở Núi Đèo, Than gáo dừa ở Trà Bắc… Theo đuổi ý tưởng sẽ tạo ra một nguồn nước sạch có thể sử dụng an toàn và cung cấp cho sinh hoạt, một vấn đề đặt ra với PGS.TS Trần Hồng Côn là phải xử lý được các nguồn nguy hại về sinh học sống trong môi trường nước. Đó là những loại vi trùng, vi khuẩn, vi rút… có nguy cơ lây bệnh cao.

Đối với ông, đây được coi là một thách thức lớn. Bởi dù có thể dùng clo, tia cực tím, ozon để tiệt trùng nước rất hiệu quả, song lại không thể tích hợp những thiết bị như vậy trong một máy lọc nước nhỏ gọn.


Qua nghiên cứu, tìm hiểu, ông phát hiện bạc có khả năng tiệt trùng rất tốt, tuy nhiên do giá thành cao nên việc ứng dụng vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn. “Đúng trong giai đoạn tìm hướng đi cho nghiên cứu của mình thì công nghệ Nano bắt đầu được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Ngay khi biết chúng ta có thể điều chế được nano bạc, tôi đã lập tức ứng dụng vào công trình lọc nước của mình. Công nghệ nano bạc không chỉ giúp cho việc tiết giảm chi phí trong việc giảm bớt lượng bạc từ vài chục gram xuống còn vài mini gram mà còn tăng khả năng diệt khuẩn cỡ 200 lần”, ông cho biết.

Để chứng minh cho hiệu quả của các cột lọc nước đồng thời để thử được các loại vật liệu tối ưu theo ý muốn, PGS.TS Trần Hồng Côn đã từng nhiều lần múc nước từ nhà vệ sinh và lấy nước sông Kim Ngưu để làm thử nghiệm. Các loại nước này sau khi qua cột lọc do ông chế tạo đã được đưa đến Viện Vệ sinh dịch tễ và Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng để kiểm tra. Kết quả cho thấy những sản phẩm này đạt chỉ tiêu của nước uống đóng chai.

Sau 2 năm nghiên cứu Đề tài khoa học về máy lọc nước được xếp 4 tầng lọc để chuyên xử lý kim loại nặng, chất hữu cơ và amoni, asen đồng thời có khả năng tiệt trùng của ông đã được nghiệm thu và được đánh giá xuất sắc.

Trong khi “biểu diễn” khả năng lọc nước sông Tô lịch thành nước sạch có thể uống được tại chỗ, có sự chứng kiến của rất nhiều người PGS.TS Trần Hồng Côn cho biết, mục đích lớn nhất trong đề tài nghiên cứu của ông là có thể giúp cho những người dân sống ở những nơi có nguồn nước bị ô nhiễm, những nơi bị lũ lụt hay những vùng nông thôn thiếu nước sạch có khả năng tái chế nguồn nước đã bị ô nhiễm để phục vụ cho sinh hoạt.
Ưu điểm nổi bật về sản phẩm lọc nước của PGS.TS Trần Hồng Côn là công nghệ hấp thu chọn lọc. Nước được lọc qua thiết bị này giữ được những khoáng chất cần thiết với hàm lượng có lợi cho cơ thể. Ngoài ra nó không cần phải sử dụng điện năng và rất thân thiện với môi trường vì có chu trình khép kín không thải nước độc ra môi trường.