Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015


Chỉ số đa dạng sinh học đang được quan tâm không đúng cách và sự hời hợt đó đang gây nguy hại đến môi trường bởi nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội trên dãy Trường Sơn ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiên nhiên môi trường nơi đây do không được đánh giá đúng cách trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Thủy điện xả lũ.

Những khu bảo tồn kêu cứu

Không thể phủ nhận tác dụng giảm tải cho QL 1A và phát triển KTXH khi đường Hồ Chí Minh (HCM) mở ra, nhưng cũng bởi con đường này cắt qua quá nhiều khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và Vườn quốc gia (VQG) cũng như vùng rừng núi trên dãy Trường Sơn đã ảnh hưởng lớn đến đa dạng sinh học (ĐDSH) nơi đây.

Trong một chuyến thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), chúng tôi nhớ mãi lời một cán bộ của khu BTTN này nói mà lắc đầu lia lịa: “Việc khai thác, săn bắt trái phép lâm sản đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến khu bảo tồn. Càng báo động hơn khi đường HCM thông tuyến. Người săn bắt, khai thác trái phép lâm sản từ chỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ chuyển sang việc đưa ra tiêu thụ bên ngoài một cách ồ ạt nhờ giao thông quá thuận tiện”. Theo một nghiên cứu công bố trong cuốn sách Shood và Hùng, 2008, một nửa số hộ dân sống trong khu BTTN Bắc Hướng Hóa có ít nhất một người săn bắt thú bất hợp pháp.

Đường HCM, đặc biệt là nhánh Tây qua địa phận ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đã xuyên qua hai VQG lớn (Phong Nha – Kẻ Bàng và Bạch Mã), hai khu BTTN quan trọng (Đakrông và Bắc Hướng Hóa, cùng ở Quảng Trị) KTXH phát triển mạnh. Song mặt trái của nó kéo theo nạn lâm tặc hoành hành; nạn tận diệt thú rừng với các nhà hàng đặc sản nhan nhản, dọc nhánh đường không ít người bày bán, giới thiệu thịt thú rừng một cách ngang nhiên.


Thủy điện Đăk Mi 4 xả lũ. (Ảnh: Pháp luật Việt Nam)

Và nỗi ám ảnh thủy điện

Sự bùng nổ xây dựng các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi đang hủy hoại và làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học dãy Trường Sơn. TS. Hoàng Văn Thắng – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Moi trường, Trường ĐHQG Hà Nội đã từng kết luận rằng, khi đặt bút phê duyệt xây dựng Dự án thủy điện Rào Quán trên sông Rào Quán, thuộc Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, cơ quan chức năng đã lượng giá rừng tự nhiên nơi đây thấp hơn cả… rừng trồng. Bởi vậy họ cho rằng việc duy trì rừng tự nhiên để bảo tồn ĐDSH không hiệu quả bằng xẻ đôi khu BTTN để xây đập thủy điện. Nhưng thực tế cho thấy việc phá rừng ồ ạt đã làm cho các thảm họa môi trường ngày càng trầm trọng hơn như lũ lụt, hạn hán hàng năm…

Mặt khác, báo cáo tác động đtm cho Dự án Rào Quán khi mới triển khai không đề cập đến những tác động lớn lên rừng tự nhiên mà chỉ tập trung vào vấn đề kỹ thuật. Ước tính, hồ thuỷ điện này chặn dòng gây ngập 274ha rừng tự nhiên và 165ha rừng trồng, nhưng dự án này báo cáo tác động đtm lại chỉ tính đến giá trị của các “cây đứng” mà thôi.

Nhưng trên dãy Trường Sơn, Rào Quán chỉ là một trong hàng trăm ví dụ. Theo một đề tài của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam về “Điều tra, khảo sát, nghiên cứu báo cáo tác động đtm và đề xuất các cơ chế, chính sách, giải pháp tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi Bắc Trung Bộ” do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) thực hiện đã khẳng định: Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã làm suy giảm tính đa dạng một số loài, thay đổi điều kiện môi trường và địa bàn cư trú… của các loài động, thực vật ở dãy Trường Sơn.

Ngập lụt hạ nguồn. (Ảnh: Pháp luật Việt Nam)

Trong vòng 8 – 9 năm qua, với việc “bùng nổ” xây dựng các hồ chứa thủy điện, thủy lợi nên tài nguyên rừng, đất rừng và quy mô rừng đang bị thu hẹp và chịu sự tàn phá nặng nề đến mức báo động. Trên các lưu vực sông chính của dãy Trường Sơn, có khoảng trên dưới 100 công trình hồ thủy điện, thủy lợi với dung tích chứa nước gần 30 tỷ mét khối. Giới bảo vệ thiên nhiên, môi trường đã phải thốt lên rằng, số lượng công trình thủy điện ở các tỉnh thuộc dãy Trường Sơn đã vượt tầm kiểm soát. Mật độ quá dày đặc này đang cắt nhỏ các dòng và lưu vực sông.

Còn nhớ năm 2007, khi Thủy điện Rào Quán xả nước với lưu lượng 200m3/giây, hạ lưu sông Thạch Hãn dâng với tốc độ chóng mặt khiến hàng nghìn hộ dân huyện Triệu Phong chìm trong biển nước.

Từ năm 2008, theo quy hoạch phát triển thủy điện nhỏ, UBND tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt 18 dự án xây dựng thủy điện với tổng công suất 103,9MW. Nhưng về sau, UBND tỉnh này đã loại đi còn 8 dự án. Hiện 4 dự án đã hoàn thành việc xây dựng và đi vào hoạt động, còn lại vẫn đang triển khai xây dựng. Người dân Quảng Trị vẫn đang lo ngại rằng, sắp tới nếu toàn bộ các công trình thủy điện đi vào hoạt động và sẽ đồng loạt xả lũ khi mùa mưa bão đến, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với các huyện ở hạ lưu các sông như Thạch Hãn, Đakrông… vốn có địa hình rất dốc.

Minh chứng đầu tiên cho việc xây dựng, vận hành bất hợp lý các công trình thủy điện ở miền Trung – Tây Nguyên là cơn “đại hồng thủy” lịch sử năm 2009 tàn phá trên diện rộng từ Quảng Trị đến Ninh Thuận và Tây Nguyên, làm 179 người chết, thiệt hại khoảng 16.078 tỷ đồng. Tháng 10, 11 năm sau (2010), việc xả lũ thiếu hợp lý của các hồ chứa nước đã ngập lụt ở hầu hết hạ lưu các sông dãy Trường Sơn.

Rồi giữa tháng 11/2013, cơn bão Nari ập vào miền Trung. Riêng ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, các con số thống kê cho thấy có ít nhất 41 người chết, 5 người mất tích, 74 người bị thương và lũ quét qua đã cuốn sạch nhà cửa, tài sản, hoa màu nông nghiệp của người dân. Tại những nơi lũ đi qua, người dân và chính quyền địa phương đều bất bình “kể tội” 15 thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đồng loạt xả lũ đã gây nên tai họa này.

Dân hạ nguồn tay trắng vì thủy điện xả lũ nhưng các nhà máy thủy điện không phải chịu trách nhiệm. Bảo nhà máy thủy điện đền bù hay khắc phục cho người dân còn khó hơn lên trời. Còn nhớ, Thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) tích nước gây ngập hơn 30 hộ dân ở xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My. Bà con có chứng cứ rành rành, kéo nhau ra tòa khởi kiện, nhưng qua 2 phiên xét xử, phần thua vẫn thuộc về… chính họ!

Việt Nam được cộng đồng khoa học thế giới đánh giá là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới. Nhưng với kiểu phát triển thủy điện hiện nay, mối “hiểm hoạ” về cuộc chia tay giữa các loài động vật, thực vật quý hiếm và ĐDSH dãy Trường Sơn đang hiện hình quá rõ nét…

Tháng 11/2011, hai nhà máy thủy điện lớn nhất Thừa Thiên Huế là Bình Điền và Hương Điền đồng loạt tăng lượng xả lũ khiến hạ nguồn ngập lụt.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Báo cáo đánh giá tác động môi trường ít đề cập đến vấn đề đa dạng sinh học

Báo cáo đánh giá tác động môi trường bao lâu nay cơ quan chức năng và các doanh nghiệp vẫn xem nhẹ, là một chỉ số quan trọng trong bản báo cáo đtm nhưng bảo tồn đa dạng sinh học lại không được xem xét một cách hợp lý . Đặc biệt ở Việt Nam thì chỉ số bảo tồn đa dạng sinh học cực kỳ quan trọng.

Ít được chú ý vì thiếu tiêu chí

Theo yêu cầu của các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là việc xem xét tác động của dự án phát triển đến hệ động, thực vật và các mối quan hệ giữa chúng. Một cách lý tưởng, đánh giá tác động đến đa dạng sinh học cần được lồng ghép trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường theo phương pháp tiếp cận hệ thống. Phương pháp này được tác giả Helen Byron mô tả chi tiết trong nghiên cứu “Biodiversity and Environmental Impact Assessment: A Good Practice Guide for Road Schemes”, xuất bản năm 2000.

Phương pháp tiếp cận hệ thống các vấn đề đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mô tả của Helen Byron

Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án phát triển rất ít, thậm chí hầu như không chú ý tới tác động đến đa dạng sinh học trong quy trình thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường. Dễ có thể nhận thấy bất cập này ở rất nhiều báo cáo ĐTM thông qua một vài điểm nhận định sau.

Thứ nhất, các dự án không có sự cân nhắc thích hợp về đa dạng sinh học khi lựa chọn vị trí thực hiện dự án. Việc xem xét các phương án lựa chọn vị trí dự án được coi là vấn đề bất cập nhất trong quy trình thẩm định dự án đầu tư ở nước ta hiện nay. Hầu hết các dự án được chấp thuận địa điểm trước khi nghiên cứu báo cáo đánh giá tác động môi trường và báo cáo đầu tư. Vì vậy, các vấn đề nhạy cảm với môi trường, bao gồm đánh giá khả năng chịu tải môi trường và tính đặc thù của hệ sinh thái trong khu vực dự kiến triển khai dự án thường bị bỏ qua và ĐTM thực chất chỉ còn đóng vai trò cố gắng giảm thiểu mà không thể ngăn ngừa các tác động tiêu cực, thậm chí trong nhiều trường hợp đây là nhiệm vụ bất khả thi.

Sự ít chú ý đến tác động tới đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường ngoài ra còn thể hiện ở việc tập hợp dữ liệu hiện trạng đa dạng sinh học rất nghèo nàn. Nhìn chung, các báo cáo ĐTM hiện nay chứa rất ít thông tin, dữ liệu về hiện trạng đa dạng sinh học cũng như về phương thức sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học. Đa phần chỉ tập trung vào các hệ sinh thái cần được bảo vệ mà không chú ý đến các hệ sinh thái không được ưu tiên bảo vệ. Điều này dẫn đến một số nhận định sai lệch về cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học đặc thù cho từng khu vực. Bên cạnh đó, các thông tin về hệ sinh thái cũng mới chỉ chú ý đến số lượng mà ít chú ý đến cấp độ của đa dạng sinh học cũng như thiếu thông tin về các mối quan hệ chức năng của các hệ sinh thái.

Điểm bất cập thứ ba cũng đáng lưu tâm là tác động đến đa dạng sinh học chưa được đánh giá thực sự đầy đủ, thuyết phục. Đa dạng sinh học của một khu vực chịu nhiều tác động khác nhau từ những hoạt động phát triển khác nhau. Bất kỳ sự thay đổi nào của hệ sinh thái cũng thường là hệ quả của những tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, đặc biệt là tác động tích lũy, tuy nhiên các báo cáo đánh giá tác động môi trường hiện mới chỉ chú ý phân tích tác động trực tiếp mà hầu như bỏ qua đánh giá tác động tích lũy.

Điều đáng nói là Việt Nam hiện chưa có các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị về đa dạng sinh học để so sánh, đánh giá mức độ và tầm quan trọng của các tác động được dự báo. Các dự báo đưa ra cũng không được đánh giá về độ chắc chắn tin cậy, vì vậy các kết quả dự báo tác động thường không đầy đủ, không chính xác và không thuyết phục. Điều này dẫn đến các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và khả năng tăng cường tác động tích cực đã không được xem xét đầy đủ để đảm bảo tính khả thi cũng như hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.


Luật mới chỉ định hướng cơ bản

Hiện Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp quy liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như: Luật Bảo vệ Môi trường 2005, Nghị định số 29/2011/ND-CP và Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Luật Đa dang sinh học 2008 và Nghị định số 65/2010/ND-CP; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Nghị định số 117/2010/ND-CP và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT; Luật Thủy sản 2003 và Nghị định số 27/2005/ND-CP.

Trong các văn bản pháp pháp quy nêu trên, đa dạng sinh học được coi là một nội dung của môi trường tự nhiên, có tiềm năng chịu tác động từ các hoạt động phát triển, vì vậy tác động đến đa dạng sinh học cần được đánh giá và cần đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực trong quy trình đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) hoặc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tương tự như các thành phần môi trường tự nhiên khác.

Mặc dù cũng quy định các nguyên tắc chung về bảo vệ đa dạng sinh học, song các văn bản lại không quy định cụ thể về các nội dung đánh giá tác động đa dạng sinh học và nhất là không đề cập đến việc cần thiết xây dựng các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị đa dạng sinh học quốc gia để so sánh khi đánh giá.

Các dự án tiềm ẩn tác động đến đa dạng sinh học tuy đã được đưa vào danh mục phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng lại không có quy định cần lưu ý đến các tác động nào (loại tác động, quy mô tác động).

Nhìn chung, trong những văn bản pháp kể trên , quy định về đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong ĐMC, ĐTM chỉ là những định hướng cơ bản, chưa đủ rõ ràng để thực hiện, vì vậy đã dẫn đến những bất cập khi triển khai trong thực tế.

Một số khuyến nghị

Thực tế thẩm định các dự án phát triển trong thời gian qua, đặc biệt là các dự án thủy điện, khai khoáng, phát triển cảng biển… cho thấy cần sớm đưa quy định về lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM, ĐMC vào các Luật liên quan, trước hết là Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) hoặc Luật Đa dạng sinh học (dự kiến sửa đổi trong thời gian tới).

Nguyên tắc và nội dung lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường có thể dựa trên một số gợi ý sau:

Thứ nhất, việc lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là một cách tiếp cận tổng thể và toàn diện để xem xét tác động của các dự án phát triển đến hệ động thực vật và dịch vụ hệ sinh thái cũng như các mối quan hệ giữa chúng. Cách tiếp cận này sẽ hỗ trợ giảm thiểu tối đa tác động đến đa dạng sinh học của các dự án phát triển, đảm bảo dự án phát triển được tích hợp với cân nhắc bảo tồn đa dạng sinh học và phù hợp về mặt pháp lý cũng như cung cấp và chia sẻ công bằng những lợi ích phát sinh từ việc sử dụng đa dạng sinh học.

Thứ hai, lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong các dự án phát triển thông qua công cụ báo cáo đánh giá tác động môi trường là cách làm phổ biến và có hiệu quả nhất hiện nay. Đánh giá tác động đến đa dạng sinh học là đánh giá tác động tiềm năng từ các hoạt động của dự án phát triển đến chất lượng của môi trường vật lý cần thiết để duy trì các hệ sinh thái và các loài trong hệ sinh thái này. Cần đặc biệt lưu ý các tác động đến các loài tạo nên yếu tố tự nhiên của đa dạng sinh học bản địa, các loại môi trường sống và các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau của các loài sinh vật sống trong môi trường đó.

Thứ ba, các quy định về lồng ghép đánh giá tác động đến đa dạng sinh học trong báo cáo đánh giá tác động môi trường cần cụ thể, tập trung vào những nội dung chính và cần có quy định về các tác động đến đa dạng sinh học phải đặc biệt lưu ý khi đánh giá. Cần sớm xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ thị ĐDSH quốc gia để sử dụng so sánh khi đánh giá. Bên cạnh đó, tham vấn cộng đồng cũng phải được coi là nội dung quan trọng không thể thiếu trong đánh giá tác động đến đa dạng sinh học.